Thứ Năm, 18 tháng 7, 2013

Vụ CSGT bắn người: Lỗi chủ yếu thuộc về…Bộ Công an!



Bộ Công an chưa thực hiện Điều 33 Pháp lệnh 16
 

Vụ CSGT Thanh Hóa nổ súng (công cụ hỗ trợ) bắn vào người vi phạm về giao thông khiến hầu hết các cơ quan báo chí đều lên tiếng mấy ngày qua. Rất nhiều cơ quan báo chí đi hỏi ý kiến các vị lãnh đạo cơ quan công an, hỏi ý kiến các luật sư. Đa phần các vị lãnh đạo các cơ quan công an và các luật sư được hỏi ý kiến đều khẳng định rằng việc nổ súng là “chưa cần thiết” hoặc “không đúng với quy định của pháp luật”. Thế nhưng chắc chắn không ai bác bỏ được lập luận của một bạn đọc ở Google.tienlang khi bạn đọc này nêu quan điểm:


"Theo pháp lệnh 16 của Quốc hội quy định rất rõ: Súng bắn đạn cao su là phương tiện hỗ trợ chứ không phải vũ khí quân dụng, bắn chỉ bị thương nhẹ chứ không chết người. Theo điều 33 của pháp lệnh như sau:

“Điều 33. Sử dụng công cụ hỗ trợ

1. Người được giao công cụ hỗ trợ khi thi hành công vụ được sử dụng trong các trường hợp sau đây:

a) Các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 22 của Pháp lệnh này;

b) Ngăn chặn người đang có hành vi đe doạ trực tiếp đến tính mạng, sức khoẻ của người khác,
c) Bắt giữ người theo quy định của pháp luật;

d) Thực hiện phòng vệ chính đáng theo quy định của pháp luật.
2. Bộ trưởng Bộ Công an quy định việc sử dụng đối với từng loại công cụ hỗ trợ.”
Như vậy theo điểm c, CSGT để bắt giữ người vi phạm thì có quyền dùng phương tiện hỗ trợ (súng bắn đạn cao su)"

Cần phải hiểu như thế nào về khái niệm “Bắt giữ người theo quy định của pháp luật” ở điểm c Khoản 1 Điều 33 Pháp lệnh số 16 ngày 30 tháng 06 năm 2011 về Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ"? Theo pháp luật thì có nhiều trường hợp “bắt giữ người”: Có thể bắt giữ người phạm tội hình sự theo thủ tục tố tụng hình sự (đặc biệt là phạm pháp quả tang như cướp, cướp giật…) hoặc có thể bắt giữ người có hành vi vi phạm hành chính theo thủ tục hành chính.

Bạn đọc của Google.tienlang hoàn toàn có lý khi phát biểu:

                      
“Trong vụ này chính người nổ súng cũng ko biết mình đúng hay sai thì rõ ràng là lỗi thuộc về các cấp lãnh đạo CA khi ko phổ biến kiến thức luật cho nhân viên trong nghành. Ngay cả pháp lệnh 16 cũng nói rất sơ sài. Thiết nghĩ chính phủ và bộ CA nên bổ sung nghị định và thông tư để hướng dẫn cụ thể hơn. Khi đó ng thi hành công vụ có cơ sở rõ ràng hơn trong việc sử dụng vũ khí và công cụ hỗ trợ.”

Chúng tôi nhất trí với quan điểm trên. Theo chúng tôi, "những trường hợp nào thì được nổ súng" hoàn không phải là quy định bí mật, ngược lại, càng công khai, càng rõ ràng bao nhiêu thì càng tốt bấy nhiêu!

Điều 33 Pháp lệnh 16 quy định chung chung và có giao đích danh cho Bộ Công an quy định chi tiết:

"Điều 33. Sử dụng công cụ hỗ trợ

1. Người được giao công cụ hỗ trợ khi thi hành công vụ được sử dụng trong các trường hợp sau đây:

a) Các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 22 của Pháp lệnh này;

b) Ngăn chặn người đang có hành vi đe doạ trực tiếp đến tính mạng, sức khoẻ của người khác,
c) Bắt giữ người theo quy định của pháp luật;

d) Thực hiện phòng vệ chính đáng theo quy định của pháp luật.

2. Bộ trưởng Bộ Công an quy định việc sử dụng đối với từng loại công cụ hỗ trợ."

Tiếc rằng tại THÔNG TƯ số 30/2012/TT-BCA ngày 29 tháng 5 năm 2012 QUY ĐỊNH CHI TIẾT THI HÀNH MỘT SỐ ĐIỀU CỦA PHÁP LỆNH QUẢN LÝ, SỬ DỤNG VŨ KHÍ, VẬT LIỆU NỔ VÀ CÔNG CỤ HỖ TRỢ VÀ NGHỊ ĐỊNH QUY ĐỊNH CHI TIẾT THI HÀNH MỘT SỐ ĐIỀU CỦA PHÁP LỆNH
không có những quy định chi tiết như Pháp lệnh đòi hỏi mà chỉ có nội dung CHÉP LẠI QUY ĐỊNH CHUNG CHUNG CỦA PHÁP LỆNH!

Cụ thể:

Tại "Điều 18. Quản lý, sử dụng công cụ hỗ trợ

Khoản 2. Việc sử dụng công cụ hỗ trợ thực hiện theo quy định tại Khoản 3 và Khoản 4, Điều 12 Thông tư này."

Còn đây là khoản 3 và 4 Điều 12. Quản lý, sử dụng vũ khí thô sơ

"3. Trong khi thi hành nhiệm vụ có tổ chức, việc sử dụng vũ khí thô sơ phải tuân theo mệnh lệnh của người có thẩm quyền. Khi thi hành nhiệm vụ độc lập, việc sử dụng vũ khí thô sơ thực hiện theo quy định của pháp luật về phòng vệ chính đáng và tuân theo các nguyên tắc sau:
a) Phải căn cứ vào từng tình huống, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm để quyết định việc sử dụng vũ khí thô sơ;
b) Chỉ sử dụng vũ khí thô sơ khi không còn biện pháp nào khác để ngăn chặn hành vi của đối tượng và sau khi đã cảnh báo bằng mệnh lệnh qua lời nói nhưng đối tượng không tuân theo;
c) Không sử dụng vũ khí thô sơ đối với đối tượng là phụ nữ, người tàn tật, trẻ em, trừ trường hợp những đối tượng này sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ tấn công hoặc chống trả, đe dọa tính mạng, sức khỏe của người thi hành nhiệm vụ hoặc người khác;
d) Trong mọi trường hợp sử dụng vũ khí thô sơ, người sử dụng vũ khí thô sơ cần hạn chế thiệt hại do việc sử dụng vũ khí thô sơ gây ra.

4. Người được giao vũ khí thô sơ (trừ vũ khí thô sơ theo quy định tại Khoản 2 Điều này) được sử dụng trong các trường hợp sau đây:

a) Các trường hợp quy định tại Khoản 3, Điều 22 Pháp lệnh;

b) Ngăn chặn người đang có hành vi đe dọa trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe của người khác;

c) Bắt giữ người theo quy định của pháp luật;

d) Thực hiện phòng vệ chính đáng theo quy định của pháp luật."

 Hướng giải quyết nên thế nào?

Vì sự quy định không rõ ràng trong pháp luật như vậy nên đòi hỏi của một vài luật sư trong vụ này về việc truy cứu trách nhiệm hình sự với người nổ súng là đại úy CSGT Thanh Hóa là không thể đặt ra.

Vấn đề đặt ra hiện nay là Bộ Công an cần gấp rút sửa đổi, bổ sung Thông tư số 30/2012/TT-BCA ngày 29 tháng 5 năm 2012 với những quy định chi tiết như đòi hỏi tại khoản 2 Điều 33 Pháp lệnh số 16.

Chúng tôi cho rằng cần quy định rõ điểm c Khoản 1 của Điều 33 Pháp lệnh 16 thế nào là “bắt giữ người theo quy định của pháp luật”? Từ các nguyên tắc được quy định ở Khoản 2 Điều 22 “Quy định nổ súng” của Pháp lệnh số 16, chúng tôi đề xuất sửa đổi, bổ sung điểm c này như sau:

“c) Bắt giữ người phạm tội quả tang nhưng cố tình bỏ trốn dù đã nổ súng cảnh cáo;”

Ngoài ra, Bộ Công an cũng nên nghiên cứu để pháp quy hóa việc “Cấm đuổi gắt gao người vi phạm giao thông” mà một vị Thượng tướng, Thứ trưởng Bộ Công an từng phát biểu công khai trên báo chí. Chúng tôi hoàn toàn nhất trí với lập luận của vị Thứ trưởng, rằng “Không truy bắt không có nghĩa là dung túng vi phạm”. Xin trích bài báo:

“Theo Thượng tướng Lê Thế Tiệm, trước đây, sau khi xảy ra một vụ việc tương tự, Bộ Công an đã có chỉ đạo cụ thể, những vụ việc xảy ra như trên là rất đáng tiếc, “do sơ suất của anh em”.

Tinh thần công an là phải quyết liệt tấn công tội phạm, dám hy sinh để bảo đảm bình yên cho nhân dân. Bộ đã quy định rất rõ trường hợp nào cần phải truy bắt đến cùng, trường hợp nào không cần thiết. Vấn đề này phụ thuộc một phần vào nhận thức của anh em - Thượng tướng Lê Thế Tiệm.

Cụ thể, cũng theo Thượng tướng Lê Thế Tiệm, với những tội phạm nguy hiểm như giết người cướp của chẳng hạn, nếu bỏ chạy thì lực lượng cảnh sát phải cương quyết tấn công, truy đuổi.

Còn ví dụ trường hợp người dân tham gia giao thông không đội mũ bảo hiểm thì cần tuyên truyền giáo dục, nếu giữ được thì phạt còn nếu họ sợ hãi bỏ chạy thì không cần thiết phải đuổi bắt, dễ cái sảy nảy cái ung.

Thượng tướng Lê Thế Tiệm cũng khẳng định, không truy đuổi gắt gao người vi phạm giao thông không có nghĩa là lực lượng công an dung túng cho sai phạm.

Thượng tướng Tiệm dẫn chứng, có nhiều trường hợp thanh niên quậy phá, không đội mũ bảo hiểm, đèo ba đèo bốn, thậm chí... chọc tức công an, đó là những hành vi đáng bị lên án, xử lý.

“Trong những trường hợp này, anh em cảnh sát cần phải hết sức kiềm chế, có thể ghi biển số xe vi phạm lại chờ xử lý sau” - Thượng tướng Tiệm nói.”

Chúng tôi cũng xin phép lưu ý cơ quan soạn thảo văn bản của Bộ Công an: Một trong những nguyên tắc xây dựng, ban hành văn bản QPPL quy định tại Điều 3 Luật BHVBQPPL là: “Bảo đảm tính công khai trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật trừ trường hợp văn bản quy phạm pháp luật có nội dung thuộc bí mật nhà nước; bảo đảm tính minh bạch trong các quy định của văn bản quy phạm pháp luật”. Khoản 1 Điều 5 Luật này còn quy định: “Ngôn ngữ sử dụng trong văn bản quy phạm pháp luật phải chính xác, phổ thông, cách diễn đạt phải rõ ràng, dễ hiểu.” Những đòi hỏi trên là nhằm để mọi người dân đều có thể hiểu và thực hiện quy định của pháp luật đã ban hành, chứ không phải chờ sau khi các sự kiện pháp lý đã xảy ra mới quýnh quàng chạy đi hỏi ý kiến cán bộ này hay cán bộ khác. 
Lê Hương Lan
===== 
Mời xem thêm những bài liên quan đã đăng trên Google.tienlang:

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét