Lời dẫn: Trên fb, bác Khoằm vừa nêu một vụ "3 thanh niên đánh 1 ông già, 2 thanh niên bị chết" xảy ra hôm qua tại TP Biên Hòa. Tìm hiểu trên mạng, hiện có rất nhiều người băn khoăn v/v xử lý ông Cao Văn Năm như thế nào.
Ông Cao Văn Năm tại bệnh viện- Ảnh báo Đồng Nai
*****
3 thanh niên đánh 1 ông già, 2 thanh niên bị chết
01/07/2013 03:05
Khoảng 11 giờ ngày 30.6, Diệp Văn Ngạt (28 tuổi), Võ Văn Sa (18 tuổi), Võ Văn Lil (20 tuổi) ngồi nhậu tại một quán ở KP.5, P.Tân Hòa, TP.Biên Hòa (Đồng Nai).
Lát sau, Sa lại gần phòng trọ của ông Cao Văn Năm (64 tuổi) đứng tiểu tiện, bị ông phản ứng và nảy sinh xô xát. Sa liền gọi Ngạt và Lil mang gậy vào phòng trọ tìm ông Năm đánh. Bị 3 thanh niên tấn công, ông Nam lấy dao để sẵn trong nhà chống cự. Trong lúc đánh nhau, Ngạt và Lil bị ông Năm đâm trúng ngực chết tại chỗ, còn Sa bị thương nặng. Hiện cơ quan điều tra tạm giữ ông Năm để tiến hành điều tra.
Kim Cương/Thanh niên
==== I- PHÒNG VỆ CHÍNH ĐÁNG
Quy định trong BLHS hiện hành:
"Điều 15. Phòng vệ chính đáng
1. Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác, mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên.
Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm."
1. Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác, mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên.
Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm."
Bốn điều kiện để xác định Phòng vệ chính đáng:
1. Điều kiện 1: Có hành vi xâm hại những lợi ích cần bảo vệ (Còn gọi là hành vi tấn công) gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại thực sự cho các quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ. Tức là hành vi xâm hại phải là hành vi phạm tội hoặc rõ ràng là hành vi đó phải có tính chất nguy hiểm đáng kể cho xã hội.
2. Điều kiện 2: (Về thời gian) hành vi tấn công phải đang xảy rahoặc đe dọa xảy ra thực sự và tức khắc. Tôi đặc biệt lưu ý: Quyền phòng vệ phát sinh không chỉ khi hành vi tấn công đang xảy ra mà còn ở ngay giai đoạn đe dọa xảy ra thực sự và tức khắc. Tức là người phòng vệ không cần thiết phải bị động chờ đợi người tấn công ra tay trước thì mình mới được quyền chống trả. Khi thông qua Điều 15 BLHS, các đại biểu QH đã nhất trí với giải trình của Ban Soạn thảo về việc cho phép thậm chí khuyến khích nhân dân tích cực, chủ động tấn công tội phạm chống lại các hành vi trái pháp luật, nhằm bảo vệ mình cũng như các quan hệ xã hội khác được pháp luật bảo vệ.
3. Điều kiện 3: Hành vi phòng vệ (hành vi chống trả sự tấn công) của người phòng vệ chính đáng phải nhằm vào chính người đang có hành vi tấn công nhằm mục đích gạt bỏ sự đe dọa, đẩy lùi sự tấn công hoặc tích cực chống lại sự xâm hại, thậm chí có thể gây thiệt hại (bằng hoặc lớn hơn) cho chính người xâm hại để đảm bảo an toàn cho những lợi ích cần bảo vệ.
4. Điều kiện 4: Sự chống trả phải là cần thiết
Sự chống trả hành vi xâm hại được coi là cần thiết nếu nó vừa đủ để có thể ngăn chặn hành vi xâm hại, hạn chế thiệt hại do hành vi xâm hại gây ra và trong hoàn cảnh cụ thể phải dùng đến những phương tiện và phương pháp đó thì mới có thể ngăn chặn, hạn chế được.
Sự chống trả hành vi xâm hại được coi là cần thiết nếu nó vừa đủ để có thể ngăn chặn hành vi xâm hại, hạn chế thiệt hại do hành vi xâm hại gây ra và trong hoàn cảnh cụ thể phải dùng đến những phương tiện và phương pháp đó thì mới có thể ngăn chặn, hạn chế được.
Để xem xét hành vi chống trả của người phòng vệ có cần thiết hay không, tức là có chính đáng hay không thì phải xem xét toàn diện những tình tiết có liên quan đến hành vi xâm hại và hành vi phòng vệ, cụ thể là:
+ Tính chất quan trọng của quan hệ xã hội cần bảo vệ đã bị xâm hại hoặc đe dọa xâm hại.
+ Mức độ thiệt hại do hành vi xâm hại có thể gây ra và mức độ thiệt hại do hành vi phòng vệ gây ra: Mức cần thiết của sự chống trả không có nghĩa là thiệt hại do người phòng vệ gây ra cho người xâm hại phải ngang bằng với thiệt hại do người xâm hại đe dọa gây ra hoặc đã gây ra cho người phòng vệ hoặc gây ra cho các lợi ích khác của xã hội. Sự cần thiết của việc gây ra thiệt hại cho người XH cần được hiểu là thiệt hại mà người PV đã gây ra cho người XH trong hoàn cảnh cụ thể nào đó là cần thiết, nhằm ngăn cản có hiệu quả HV nguy hiểm của người XH.
+ Tính chất quan trọng của quan hệ xã hội cần bảo vệ đã bị xâm hại hoặc đe dọa xâm hại.
+ Mức độ thiệt hại do hành vi xâm hại có thể gây ra và mức độ thiệt hại do hành vi phòng vệ gây ra: Mức cần thiết của sự chống trả không có nghĩa là thiệt hại do người phòng vệ gây ra cho người xâm hại phải ngang bằng với thiệt hại do người xâm hại đe dọa gây ra hoặc đã gây ra cho người phòng vệ hoặc gây ra cho các lợi ích khác của xã hội. Sự cần thiết của việc gây ra thiệt hại cho người XH cần được hiểu là thiệt hại mà người PV đã gây ra cho người XH trong hoàn cảnh cụ thể nào đó là cần thiết, nhằm ngăn cản có hiệu quả HV nguy hiểm của người XH.
+ Vũ khí, phương tiện, phương pháp mà hai bên đã sử dụng: Sự chống trả một cách cần thiết không có nghĩa là người đang có hành vi xâm hại dùng công cụ, phương tiện gì thì người phòng vệ cũng phải dùng công cụ, phương tiện tương đương để chống trả.
+ Nhân thân của người Xâm hại (nam hay nữ, tuổi, nghề nghiệp, tiền án, tiền sự);
+Tính chất và cường độ của sự tấn công và sự phòng vệ: Tính chất và cường độ chống trả chỉ cần ở mức nào đó đủ để ngăn chặn không để người đó thực hiện được hành vi phạm tội, không thực hiện được hành vi trái pháp luật và không để hành vi đó gây ra hậu quả tác hại.
+ Hoàn cảnh và nơi xảy ra sự việc (nơi vắng người, nơi đông người, ban ngày hay đêm khuya... ).
Ngoài những tình tiết trên đây cũng cần chú ý đến yếu tố tâm lý của người phòng vệ, bởi vì có những trường hợp người phòng vệ không thể có điều kiện bình tĩnh lựa chọn được chính xác các phương pháp, phương tiện chống trả thích hợp, nhất là trong trường hợp bị họ tấn công bất ngờ.
Tuy nhiên, việc đánh giá thế nào là phòng vệ chính đángtrong thực tế là một việc khó khăn, phức tạp, nhất là đối với người phòng vệ khi không có điều kiện để lựa chọn phương tiện và phương pháp chống trả thích hợp (vd: khi họ bị tấn công bất ngờ). Vì vậy, sự cần thiết nói trong PVCĐ chỉ là sự cần thiết tương đối.
Sau khi đã xem xét một cách đầy đủ khách quan tất cả các mặt nói trên mà nhận thấy rõ ràng là trong hoàn cảnh sự việc xảy ra, người phòng vệ đã sử dụng phương tiện, phương pháp rõ ràng là quáđáng và đã gây thiệt hại rõ ràng là quá mức (chẳng hạn gây thương tích nặng, làm chết người) đối với người có hành vi xâm hại thì hành vi chống trả đó là vượt quá mức cần thiết, đó là vượt quá giới hạn Phòng vệ chínhđáng. Ngược lại, nếu hành vi chống trả là cần thiết thì đó là Phòng vệ chính đáng.
Trong 4 điều kiện trên đây, điều kiện thứ nhất và điều kiện thứ 2 nói về hành vi xâm hại, điều kiện thứ 3 và điều kiện thứ 4 nói về hành vi phòng vệ. Bốn điều kiện này là sự tổng hợp để xem xét công nhận hay không công nhận một hành vi nào đó có phải là hành vi phòng vệ hay không và hành vi phòng vệ đó có chính đáng hay không.
II- VƯỢT QUÁ GIỚI HẠN PHÒNG VỆ CHÍNH ĐÁNG:
"Điều 15 Phòng vệ chính đáng
2.Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại.
2.Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại.
Người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự."
Theo hướng dẫn của TAND tối cao tại Chỉ thị số 07/TATC ngày 22/12/1983 thì vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là những trường hợp "...người phòng vệ đã dùng những phương tiện và phương pháp gây ra thiệt hại quá đáng cho người xâm hại mà tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi xâm hại cũng như hoàn cảnh cụ thể chưa đòi hỏi phải dùng các phương tiện và phương pháp đó."
Khi không cần thiết áp dụng các phương tiện và phương pháp chống trả mà người phòng vệ vẫn áp dụng dẫn tới việc gây thiệt hại rõ ràng là quá mức cần thiết thì đó là trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng.
Hai điều kiện để hành vi phòng vệ được coi là vượt quá giới hạn của phòng vệ chính đáng:
1. Phải có hành vi tấn công thực tế đang xảy ra hoặc đe dọa xảy ra ngay tức khắc làm cơ sở cho việc thực hiện quyền PV.
2. Người phòng vệ đã áp dụng các phương tiện và phương pháp không cần thiết để đạt mục đích phòng vệ và đã gây ra thiệt hại quá đáng cho người tấn công trong khi hành vi tấn công của họ chưa đáng phải chịu thiệt hại đến mức như vậy.
Đây là điều kiện cần thiết để xác định vượt quá giới hạn PV chính đáng và phân biệt nó với PV chính đáng bởi PV chính đáng không có nghĩa là muốn gây thiệt hại cho người tấn công đến mức độ nào cũng được.
Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng hành vi PVCĐ có thể gây ra thiệt hại cho người tấn công bằng hoặc lớn hơn thiệt hại mà người tấn công gây ra nếu đó là sự cần thiết.
Nếu mức độ thiệt hại do HV vượt quá giới hạn PVCĐ gây ra lớn đến mức cấu thành tội phạm thì đây là trường hợp phạm tội có tình tiết giảm nhẹ đặc biệt (điểm c, khoản 1, Điều 46 BLHS);
Người có HVPV mà gây ra thương tích nặng hoặc gây tổn hại nặng cho sức khoẻ của người XH hoặc gây thương tích dẫn đến chết người do vượt quá giới hạn PVCĐ thì bị truy cứu TNHS về tội "cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại nặng cho sức khoẻ của người khác do vượt quá giới hạn PVCĐ" theo Điều 106 BLHS.
Người có HV vượt quá giới hạn PVCĐ gây chết người bị truy cứu TNHS về tội "giết người do vượt quá giới hạn PVCĐ" được quy định tại Điều 96 BLHS.
Trường hợp HV trái pháp luật của người XH quá nhỏ nhặt nhưng người PV đã nhân cớ đó gây thiệt hại quá mức thì HV đó của "Người phòng vệ" vẫn là một HV phạm tội trong trường hợp thông thường chứ không phải là do vượt quá giới hạn PVCĐ.
Hai điều lưu ý:
1. Phòng vệ quá sớm và phòng vệ quá muộn: PV quá sớm và PV quá muộn là một dạng sai lầm về sự việc trong đó người có HVPV do xác định sai thời điểm mà thực hiện HV gây thiệt hại cho người tấn công:
PV quá sớm: Là trường hợp HVPV bắt đầu ngay khi HV tấn công thực tế chưa xảy ra hoặc chưa có dấu hiệu chứng tỏ HV tấn công đe doạ xảy ra ngay tức khắc.
PV quá muộn: Là trường hợp HV tấn công đã kết thúc thì mới bắt đầu thực hiện HVPV (Trường hợp HVPV xảy ra sau khi sự tấn công đã kết thúc vẫn được coi là PVCĐ nếu sự PV đó đi liền ngay sau sự tấn công và có thể khắc phục được thiệt hại do sự tấn công đã gây ra).
2 Phòng vệ tưởng tượng:
PV tưởng tượng là trường hợp một người do lầm tưởng có sự tấn công của người khác nên đã gây thiệt hại cho họ.
PV tưởng tượng cũng là một dạng sai lầm về sự việc, thường xảy ra các trường hợp sau:
-Hoàn toàn không có sự tấn công nào cả, thực tế HV tấn công đã không xảy ra nhưng người PV lại tuởng là có sự tấn công.
-Có sự tấn công nhưng người PV đã thực hiện hành vi phòng vệ nhầm vào người không có HV tấn công.
Do không được thừa nhận là PVCĐ nên người có HV gây thiệt hại cho người khác trong tất cả các trường hợp trên dù là cố ý hay vô ý đều phải chịu TNHS tuỳ thuộc vào mức độ thiệt hại mà họ đã gây ra.
Khác với trường hợp vượt quá giới hạn PVCĐ được xem là tình tiết giảm nhẹ TNHS đặc biệt (Điều 46 BLHS), đối với các trường hợp PV tưởng tượng, PV quá sớm và PV thì vấn đề TNHS vẫn đặt ra và giải quyết như mọi trường hợp sai lầm về sự việc khác.
Luật hình sự nước ta quy định về PVCĐ nhằm mục đích bảo vệ và phát huy quyền tự vệ chính đáng của công dân, của cán bộ thi hành công vụ, để ngăn chặn, hạn chế những HV và hậu quả nguy hiểm do những kẻ có HVXH những lợi ích chính đáng hoặc do kẻ phạm tội gây ra đối với XH.
Bằng chế định này, NN cho phép công dân và những cán bộ thi hành công vụ được bảo vệ lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của XH khi có thể bảo vệ được.
Tuy nhiên, qua tìm hiểu chế định PVCĐ, mỗi một chúng ta cần phải nhận thức được rằng: PVCĐ luôn luôn có giới hạn, chỉ được coi là PVCĐ khi hành vi của người PV phải hội đủ các điều kiện của nó.
====
Theo hướng dẫn của TAND tối cao tại Chỉ thị số 07/TATC ngày 22/12/1983 thì vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là những trường hợp "...người phòng vệ đã dùng những phương tiện và phương pháp gây ra thiệt hại quá đáng cho người xâm hại mà tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi xâm hại cũng như hoàn cảnh cụ thể chưa đòi hỏi phải dùng các phương tiện và phương pháp đó."
Khi không cần thiết áp dụng các phương tiện và phương pháp chống trả mà người phòng vệ vẫn áp dụng dẫn tới việc gây thiệt hại rõ ràng là quá mức cần thiết thì đó là trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng.
Hai điều kiện để hành vi phòng vệ được coi là vượt quá giới hạn của phòng vệ chính đáng:
1. Phải có hành vi tấn công thực tế đang xảy ra hoặc đe dọa xảy ra ngay tức khắc làm cơ sở cho việc thực hiện quyền PV.
2. Người phòng vệ đã áp dụng các phương tiện và phương pháp không cần thiết để đạt mục đích phòng vệ và đã gây ra thiệt hại quá đáng cho người tấn công trong khi hành vi tấn công của họ chưa đáng phải chịu thiệt hại đến mức như vậy.
Đây là điều kiện cần thiết để xác định vượt quá giới hạn PV chính đáng và phân biệt nó với PV chính đáng bởi PV chính đáng không có nghĩa là muốn gây thiệt hại cho người tấn công đến mức độ nào cũng được.
Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng hành vi PVCĐ có thể gây ra thiệt hại cho người tấn công bằng hoặc lớn hơn thiệt hại mà người tấn công gây ra nếu đó là sự cần thiết.
Nếu mức độ thiệt hại do HV vượt quá giới hạn PVCĐ gây ra lớn đến mức cấu thành tội phạm thì đây là trường hợp phạm tội có tình tiết giảm nhẹ đặc biệt (điểm c, khoản 1, Điều 46 BLHS);
Người có HVPV mà gây ra thương tích nặng hoặc gây tổn hại nặng cho sức khoẻ của người XH hoặc gây thương tích dẫn đến chết người do vượt quá giới hạn PVCĐ thì bị truy cứu TNHS về tội "cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại nặng cho sức khoẻ của người khác do vượt quá giới hạn PVCĐ" theo Điều 106 BLHS.
Người có HV vượt quá giới hạn PVCĐ gây chết người bị truy cứu TNHS về tội "giết người do vượt quá giới hạn PVCĐ" được quy định tại Điều 96 BLHS.
Trường hợp HV trái pháp luật của người XH quá nhỏ nhặt nhưng người PV đã nhân cớ đó gây thiệt hại quá mức thì HV đó của "Người phòng vệ" vẫn là một HV phạm tội trong trường hợp thông thường chứ không phải là do vượt quá giới hạn PVCĐ.
Hai điều lưu ý:
1. Phòng vệ quá sớm và phòng vệ quá muộn: PV quá sớm và PV quá muộn là một dạng sai lầm về sự việc trong đó người có HVPV do xác định sai thời điểm mà thực hiện HV gây thiệt hại cho người tấn công:
PV quá sớm: Là trường hợp HVPV bắt đầu ngay khi HV tấn công thực tế chưa xảy ra hoặc chưa có dấu hiệu chứng tỏ HV tấn công đe doạ xảy ra ngay tức khắc.
PV quá muộn: Là trường hợp HV tấn công đã kết thúc thì mới bắt đầu thực hiện HVPV (Trường hợp HVPV xảy ra sau khi sự tấn công đã kết thúc vẫn được coi là PVCĐ nếu sự PV đó đi liền ngay sau sự tấn công và có thể khắc phục được thiệt hại do sự tấn công đã gây ra).
2 Phòng vệ tưởng tượng:
PV tưởng tượng là trường hợp một người do lầm tưởng có sự tấn công của người khác nên đã gây thiệt hại cho họ.
PV tưởng tượng cũng là một dạng sai lầm về sự việc, thường xảy ra các trường hợp sau:
-Hoàn toàn không có sự tấn công nào cả, thực tế HV tấn công đã không xảy ra nhưng người PV lại tuởng là có sự tấn công.
-Có sự tấn công nhưng người PV đã thực hiện hành vi phòng vệ nhầm vào người không có HV tấn công.
Do không được thừa nhận là PVCĐ nên người có HV gây thiệt hại cho người khác trong tất cả các trường hợp trên dù là cố ý hay vô ý đều phải chịu TNHS tuỳ thuộc vào mức độ thiệt hại mà họ đã gây ra.
Khác với trường hợp vượt quá giới hạn PVCĐ được xem là tình tiết giảm nhẹ TNHS đặc biệt (Điều 46 BLHS), đối với các trường hợp PV tưởng tượng, PV quá sớm và PV thì vấn đề TNHS vẫn đặt ra và giải quyết như mọi trường hợp sai lầm về sự việc khác.
Luật hình sự nước ta quy định về PVCĐ nhằm mục đích bảo vệ và phát huy quyền tự vệ chính đáng của công dân, của cán bộ thi hành công vụ, để ngăn chặn, hạn chế những HV và hậu quả nguy hiểm do những kẻ có HVXH những lợi ích chính đáng hoặc do kẻ phạm tội gây ra đối với XH.
Bằng chế định này, NN cho phép công dân và những cán bộ thi hành công vụ được bảo vệ lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của XH khi có thể bảo vệ được.
Tuy nhiên, qua tìm hiểu chế định PVCĐ, mỗi một chúng ta cần phải nhận thức được rằng: PVCĐ luôn luôn có giới hạn, chỉ được coi là PVCĐ khi hành vi của người PV phải hội đủ các điều kiện của nó.
====
Từ những phân tích trên đây, đối chiếu với trường hợp của ông Cao Văn Năm ở TP BIÊN HÒA, theo chúng tôi, cần xem xét thêm những tình tiết liên quan nữa. Nếu đúng như những gì báo Thanh niên đã nêu, chúng tôi nghiêng về giả thuyết áp dụng Khoản 1 Điều 15 BLHS: Ông Năm vô tội!
Lê Hương Lan

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét